Video ôn thi vào lớp 10 miễn phí

Đề thi vào lớp 10 môn Văn của Thanh Hóa năm 2013 - Có đáp án - Đề số 2

Thứ sáu - 19/02/2016 05:20

Thivao10.net giới thiệu Đề thi vào lớp 10 môn Văn của Thanh Hóa năm 2013 - Có đáp án - Đề số 2

môn Văn

KỲ THI TUYỂN SINH LỚP 10 THPT
Môn thi: Ngữ Văn
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian giao đề

Câu 1. (2,0 điểm)
Chỉ ra các phép liên kết và những từ ngữ dùng để liên kết câu trong đoạn văn sau:

“Tác phẩm nghệ thuật nào cũng xây dựng bằng những vật liệu mượn ở thực tại. Nhưng nghệ sĩ không những ghi lại cái đã có rồi mà còn muốn nói một điều gì mới mẻ. Anh gửi vào tác phẩm một lá thư, một lời nhắn nhủ, anh muốn đem một phần của mình góp vào đời sống chung quanh.”

(Nguyễn Đình Thi – “Tiếng nói của văn nghệ”, SGK Ngữ văn 9, Tập hai – NXB Giáo dục – 2009)

Câu 2. (3,0 điểm)
Bằng kiến thức đã được học, em hãy viết bài thuyết minh (khoảng 300 từ) về tác giả Bằng Việt và bài thơ “Bếp lửa”.

Câu 3. (5,0 điểm)
Hãy phân tích nhân vật ông Sáu trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng (phần trích trong SGK Ngữ văn 9, Tập một – NXB Giáo dục) để thấy được tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con.

———————————————- HẾT ———————————————-

HƯỚNG DẪN CHẤM

I. HƯỚNG DẪN CHUNG:
- Do đặc trưng bộ môn, giám khảo cần vận dụng biểu điểm một cách linh hoạt, chủ động; khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo, diễn đạt tốt.
- Không hạ thấp yêu cầu của biểu điểm.
- Điểm bài thi là tổng điểm thành phần (có thể lẻ đến 0,25 điểm), không làm tròn.

II. HƯỚNG DẪN CỤ THỂ:

Câu 1. (2 điểm)

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

1.Các phép liên kết - Phép lặp từ ngữ

 

- Phép dùng từ ngữ đồng nghĩa, cùng trường liên tưởng

- Phép thế

- Phép nối

0,25đ

0,25đ

0,25đ

0,25đ

2. Từ ngữ dùng để liên kết câu - Trong phép lặp: tác phẩm

 

- Trong phép dùng từ ngữ đồng nghĩa, cùng trường liên tưởng: (những vật liệu mượn ở thực tại) cái đã có rồi; (tác phẩm) nghệ sĩ

- Trong phép thế: Anh

- Trong phép nối: Nhưng

0,25đ

0,25đ

0,25đ

0,25đ

Câu 2. (3 điểm)

I. Yêu cầu chung:
- Học sinh biết viết một bài văn thuyết minh.
- Bố cục rõ ràng, chữ viết đủ nét, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, diễn đạt.
II. Yêu cầu cụ thể và cách cho điểm:
Học sinh có thể trình bày nhiều cách khác nhau, nhưng bài viết cần có các ý cơ bản sau:

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

1.

Giới thiệu chung về đối tượng thuyết minh: tác giả Bằng Việt và bài thơ “Bếp lửa”.

0,25đ

2.

 Thuyết minh về tác giả:

0,75đ

 

- Tên khai sinh: Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Hà Tây (nay thuộc Hà Nội).

0,25đ

- Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60, thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ.

0,25đ

- Hiện nay ông là Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội.

0,25đ

3.

Thuyết minh về bài thơ “Bếp lửa”:

1,75đ

  - Xuất xứ: Sáng tác năm 1963, khi tác giả đang học ở nước ngoài, sau được đưa vào tập “Hương cây – Bếp lửa”.

0,25đ

- Mạch cảm xúc của bài thơ đi từ hồi tưởng đến hiện tại, từ kỉ niệm đến suy ngẫm.

 

- Bố cục:

+ Khổ 1: hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng về bà

+ 4 khổ tiếp: hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa

+ Khổ 6: suy ngẫm về bà và cuộc đời bà

+ Khổ cuối: nỗi nhớ bà khôn nguôi của người cháu đã trưởng thành

0,25đ

- Giá trị nội dung: Qua hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, bài thơ gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu (…), đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của người cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước (…).

0,75đ

- Giá trị nghệ thuật: Bài thơ đã kết hợp hài hoà nhiều phương thức biểu đạt (…), sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng (…),…

0,5đ

4.

Đánh giá chung:

0,25đ

 

“Bếp lửa” là bài thơ hay, xúc động về tình bà cháu, bồi dưỡng cho người đọc tình yêu đối với gia đình, quê hương, đất nước.

 

Câu 3. (5,0 điểm)

I. Yêu cầu chung:

- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về tác phẩm truyện (kiểu bài phân tích nhân vật). Qua phân tích biết khái quát, đánh giá ý nghĩa tư tưởng, giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

- Bố cục ba phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, dùng từ và diễn đạt.

II. Yêu cầu cụ thể và cách cho điểm:

Trên cơ sở hiểu biết về tác giả Nguyễn Quang Sáng và truyện ngắn “Chiếc lược ngà” (phần trích trong SGK Ngữ văn 9, Tập một), học sinh có thể có nhiều cách sắp xếp ý và diễn đạt khác nhau nhưng cần phải hướng đến các ý cơ bản sau:

Ý

Nội dung cần đạt

Điểm

1.

Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Quang Sáng, truyện ngắn “Chiếc lược ngà”, nhân vật ông Sáu – người cha yêu thương con sâu nặng.

0,5đ

2.

Phân tích nhân vật ông Sáu để thấy được tình yêu thương sâu nặng mà người cha dành cho con.Học sinh cần bám vào tình huống truyện, chọn chi tiết nghệ thuật đặc sắc để làm rõ điều đó.

3,5đ

  * Tình cảm của ông Sáu với con trong những ngày ông được nghỉ phép:

1,0đ

  + Sau tám năm xa cách, khi được nghỉ phép về thăm nhà, ông vồ vập đến với con (…).

0,25đ

+ Những ngày nghỉ phép, ông tìm mọi cách để gần con, quá nóng ruột, không kìm được mình, ông đánh con (…). Giây phút chia tay, được nghe con gọi “ba”, ông sung sướng, xúc động nghẹn ngào không cầm được nước mắt (…).

0,75đ

  * Tình cảm của ông Sáu với con được thể hiện tập trung và sâu sắc ở phần sau của truyện, khi ông Sáu ở trong rừng, tại khu căn cứ:

2,5đ

 

+ Ông luôn day dứt, ân hận đã đánh con khi nóng giận. Lời dặn của con lúc chia tay: “Ba về! Ba mua cho con một cây lược nghe ba!” đã thúc đẩy ông nghĩ đến việc làm một chiếc lược ngà dành cho con.

0,5đ

+ Khi kiếm được một khúc ngà, ông đã vô cùng vui sướng, rồi dành hết tâm lực vào việc làm cây lược (“Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ bạc”, “Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, tẩn mẩn khắc từng nét: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”). Chiếc lược ngà đã thành một vật quí giá, thiêng liêng với ông Sáu. Nó làm dịu đi nỗi ân hận và chứa đựng bao nhiêu tình cảm yêu mến, nhớ thương, mong đợi của người cha với đứa con xa cách.

1,5đ

+ Bị thương nặng trong một trận càn của địch, trước khi nhắm mắt, ông cố sức lấy chiếc lược, nhờ đồng đội trao lại cho con gái (“Trong giờ phút cuối cùng, không còn đủ sức trăng trối lại điều gì, hình như chỉ có tình cha con là không thể chết được, anh đưa tay vào túi, móc cây lược, đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu”). Đến phút cuối của cuộc đời, người cha ấy vẫn chỉ nghĩ đến con, dành trọn vẹn tình cảm cho con.Þ Như vậy thường trực, đau đáu trong cảm xúc, suy nghĩ, tâm trạng, hành động, cử chỉ của ông Sáu từ khi được gặp con đến khi vĩnh biệt cuộc đời là hình ảnh đứa con yêu dấu.

0,5đ

3.

Đánh giá chung:

1,0đ

 

+ Bằng ngòi bút nghệ thuật tinh tế, đậm chất Nam Bộ, Nguyễn Quang Sáng đã xây dựng thành công nhân vật ông Sáu. Tác giả để nhân vật này hiện lên qua lời kể mộc mạc, chân thật của người kể chuyện là ông Ba (bạn thân của ông Sáu); đặt nhân vật vào tình huống bất ngờ nhưng tự nhiên, hợp lí; miêu tả tâm lí, tình cảm nhân vật sâu sắc; sáng tạo hình ảnh chiếc lược ngà mang nhiều ý nghĩa.

0,5đ

+ Nhân vật ông Sáu đã góp phần thể hiện sâu sắc tư tưởng chủ đề của truyện. Qua nhân vật này, nhà văn đã khẳng định và ngợi ca tình phụ tử thiêng liêng như một giá trị nhân bản sâu sắc. Tình cảm ấy là cội nguồn sức mạnh giúp dân tộc ta vượt lên sự huỷ diệt tàn bạo của chiến tranh, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

0,5đ


 
 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
Xem thêm đề thi về:
 

Các đề thi của Sở GD&ĐT Thanh Hóa

 

Đề thi khác cùng môn Môn Văn

Tìm kiếm đề thi
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây